Nhung Hươu: Báu Vật Từ Chiếc Sừng Mùa Xuân

Mỗi năm vào mùa xuân, trên đầu những chú hươu đực diễn ra một điều kỳ diệu hiếm có trong thế giới động vật: một bộ sừng hoàn toàn mới mọc lên. Chỉ trong vài tháng, bộ sừng ấy vươn dài từng ngày, mềm mại, ấm nóng, căng đầy máu và phủ một lớp da lông mịn như nhung. Người xưa gọi đó là nhung, và suốt hơn hai nghìn năm, nó được xem là một trong những vị thuốc quý nhất của y học phương Đông, đứng bên cạnh nhân sâm trong cụm từ quen thuộc "sâm nhung".

Bài viết này kể câu chuyện của nhung hươu: từ những cuộn thư thời Hán, thảo nguyên Altai, những trang trại New Zealand, đến làng nuôi hươu Hương Sơn của Hà Tĩnh và cuộc hồi sinh của loài hươu sao Việt Nam.

Nhung là gì?

Nhiều người nghĩ sừng hươu cũng giống sừng trâu, sừng bò. Thực ra hai thứ này khác hẳn nhau. Sừng trâu bò mọc suốt đời và không bao giờ rụng. Còn gạc hươu là xương, và mỗi năm hươu lại rụng gạc cũ, mọc gạc mới.

Khi gạc mới bắt đầu mọc, nó là một khối mô sống mềm, chứa đầy mạch máu, sụn và tế bào đang phân chia, bao bọc bởi lớp da có lông tơ mịn. Đó chính là nhung (lộc nhung, 鹿茸: "lông tơ của hươu"). Vài tháng sau, nhung hoá xương cứng dần, lớp da khô đi và bong ra, để lại bộ gạc (lộc giác) cứng cáp dùng cho mùa giao phối. Hết mùa, gạc rụng, và chu kỳ lại bắt đầu.

Hươu đỏ đực với bộ sừng non phủ lớp nhung mịn đứng trên đồng cỏ, phía sau là núi
Hươu đỏ đực mang bộ sừng đang ở giai đoạn nhung: mềm, phủ lớp da lông mịn và nuôi bằng hệ mạch máu dày đặc.Ảnh: Mehmet Karatay, Massimo Catarinella / Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0

Tốc độ mọc của nhung khiến giới khoa học kinh ngạc: vào thời điểm mạnh nhất, gạc hươu có thể dài thêm tới khoảng 2 cm mỗi ngày, thuộc hàng mô xương mọc nhanh nhất trong thế giới loài có vú. Bí mật nằm ở một "kho" tế bào gốc khổng lồ ở đỉnh gạc. Chính vì vậy, nhung hươu ngày nay là đề tài nghiên cứu hấp dẫn của ngành y học tái tạo: làm sao một loài vật có thể tái tạo trọn vẹn một cơ quan lớn mỗi năm mà không để lại sẹo?

Hai nghìn năm trong y học phương Đông

Việc dùng nhung hươu làm thuốc đã có từ thời nhà Hán (206 TCN – 220). Một cuộn văn bản y học tìm thấy trong ngôi mộ cổ khoảng 2.000 năm tuổi ở Hồ Nam (Trung Quốc) được xem là một trong những ghi chép sớm nhất về nhung hươu như một vị thuốc.

Thần Nông bản thảo kinh, bộ sách dược cổ nhất còn lưu truyền, đã chép về nhung hươu. Đến thế kỷ 16, trong bộ Bản thảo cương mục đồ sộ, danh y Lý Thời Trân ghi lại nhiều dạng bào chế từ hươu: thuốc hoàn, rượu thuốc, thuốc cao. Người xưa tận dụng gần như mọi bộ phận của con hươu. Ngay sách của GS. Đỗ Tất Lợi cũng liệt kê lộc nhung (nhung), lộc giác (gạc), lộc thai (hươu bào thai), lộc thận, lộc cân (gân), lộc vĩ (đuôi), lộc huyết (máu), mỗi thứ một công dụng theo Đông y.

Trong văn hoá Á Đông, con hươu (chữ Hán là 鹿, lộc) còn mang ý nghĩa may mắn, vì đồng âm với chữ 祿 (lộc: bổng lộc, tài lộc). Hươu là một trong những hình ảnh quen thuộc của tranh chúc thọ, chúc phúc, như bộ ba Phúc, Lộc, Thọ.

Từ thảo nguyên Altai đến New Zealand

Hươu maral và pantocrin

Ở vùng núi Altai (Nga), người ta đã nuôi hươu maral để lấy nhung khoảng 200 năm. Đầu thời Xô viết, lệnh cấm săn bắn đã giúp loài hươu này thoát khỏi nguy cơ bị tận diệt. Sau đó, các nhà khoa học Liên Xô bắt đầu nghiên cứu nhung một cách bài bản. Như GS. Đỗ Tất Lợi ghi lại, nhà khoa học Pavlenko đã chiết từ nhung hươu nai Siberia ra một chế phẩm gọi là pantocrin. Từ thập niên 1930 đến 1980, pantocrin được sản xuất thương mại và trở thành một loại thuốc bổ quen thuộc.

Hươu Altai đực với bộ sừng nhung đứng trên thảm cỏ xanh
Hươu Altai mang bộ gạc nhung ở Vườn quốc gia Karkaraly, Kazakhstan. Vùng Altai có truyền thống nuôi hươu lấy nhung khoảng hai thế kỷ.Ảnh: Marat Rysbekov / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

New Zealand: từ loài ngoại lai thành ngành hàng

Câu chuyện ở New Zealand lại rất khác. Hươu đỏ vốn không có ở quần đảo này; chúng được những người định cư châu Âu mang tới từ thế kỷ 19 để săn bắn. Không có thiên địch, đàn hươu sinh sôi nhanh đến mức bị coi là loài gây hại cho rừng. Rồi từ thập niên 1970, người New Zealand bắt đầu bắt hươu hoang về nuôi trong trang trại, biến "loài gây hại" thành một ngành nông nghiệp. Ngày nay, New Zealand là một trong những nơi sản xuất nhung hươu lớn trên thế giới, và Hàn Quốc là thị trường tiêu thụ chính.

Ảnh đen trắng đầu thế kỷ 20: đàn hươu đỏ nằm và đứng trên bãi cỏ dưới hàng liễu, một bé gái đứng nhìn
Đàn hươu đỏ ở vùng Wairarapa, New Zealand, đầu thế kỷ 20, khi hươu còn là loài mới được đưa tới quần đảo.Ảnh: William A. Collis, Thư viện Quốc gia New Zealand / Wikimedia Commons, không giới hạn bản quyền

New Zealand cũng đặt ra những quy định rất chặt về phúc lợi động vật khi lấy nhung: việc cắt nhung gây đau, nên phải do bác sĩ thú y hoặc người đã được đào tạo và cấp phép thực hiện, và con hươu phải được gây tê, giảm đau trong suốt quá trình.

Nhung hươu trên đất Việt

Hương Sơn: thủ phủ nhung hươu

Theo sách của GS. Đỗ Tất Lợi, ở Việt Nam người ta lấy nhung từ hươu sao (Cervus nippon) và nai (Cervus unicolor). Nghề nuôi hươu tập trung ở Nghệ An và Hà Tĩnh, tại các vùng như Đô Lương, Anh Sơn, Hương Sơn, Hương Khê.

Nổi tiếng nhất là Hương Sơn (Hà Tĩnh), vùng đất dưới chân dãy Trường Sơn. Đây cũng là nơi danh y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác sống, hành nghề và viết nên những công trình y học đồ sộ. Người Hương Sơn truyền nhau một câu chuyện: chính Lãn Ông là người đầu tiên thuần dưỡng hươu hoang để lấy nhung làm thuốc. Dù chưa có tư liệu lịch sử nào chứng minh, câu chuyện cho thấy niềm tự hào của người dân về nghề truyền thống của quê mình.

Ở xã Sơn Lâm, được gọi là "cái nôi" của nghề, khoảng 95% số hộ sống nhờ nuôi hươu. Toàn vùng Hương Sơn có hàng chục nghìn con hươu, mỗi năm cho hàng chục tấn nhung. Năm 2019, Cục Sở hữu trí tuệ cấp chỉ dẫn địa lý "Hương Sơn" (số 00072) cho sản phẩm nhung hươu, bao gồm nhung tươi, nhung đông lạnh và nhung khô.

Đàn hươu sao lông đốm trắng đứng trên sườn đồi giữa cây cối, nhìn về phía máy ảnh
Đàn hươu sao nuôi thả trên sườn đồi ở Tả Phìn Hồ (Hà Giang). Bộ lông nâu đỏ điểm đốm trắng là đặc điểm làm nên cái tên "hươu sao".Ảnh: GiangLy / Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0

Hươu sao Việt Nam: mất ngoài tự nhiên, sống nhờ người nuôi

Có một nghịch lý đáng suy ngẫm. Phân loài hươu sao Việt Nam (Cervus nippon pseudaxis) đã không còn được ghi nhận ngoài tự nhiên từ khoảng năm 1990, do mất rừng và nạn săn bắt. Sách đỏ Việt Nam xếp nó vào nhóm "tuyệt chủng ngoài tự nhiên", cùng với cá sấu hoa cà hay tê giác một sừng.

Thế nhưng, phân loài này vẫn còn tồn tại, và phần lớn nhờ chính những trang trại nuôi hươu truyền thống ở miền Trung. Một nghiên cứu di truyền năm 2004 cho thấy phần lớn cá thể hươu sao Việt Nam còn lại nằm trong các trại nuôi này. Gần đây, Vườn quốc gia Cúc Phương đã có kế hoạch từng bước thả khoảng 60 cá thể hươu sao về rừng, với hy vọng một ngày loài hươu này lại sống tự do trên đất Việt.

Tranh màu thế kỷ 19 vẽ hai con hươu đực, một con lông đốm trắng đứng, một con nằm
"Cerf faux-axis": hình vẽ hươu sao Việt Nam trong báo cáo động vật học của chuyến thám hiểm tàu La Bonite (Pháp), thế kỷ 19. Tên khoa học pseudaxis ("giả hươu axis") của phân loài này tương ứng với chữ "faux-axis" trên tranh.Ảnh: Wikimedia Commons, public domain

Nhung được lấy và chế biến thế nào?

Theo mô tả trong sách của GS. Đỗ Tất Lợi, mỗi năm thường chỉ cắt một cặp nhung, cắt cách gốc khoảng 3 cm. Nhung phải được chế biến ngay sau khi cắt: hoặc ngâm rượu rồi sấy khô nhiều lần, hoặc nhúng nước sôi rồi sấy. Quá trình kéo dài 2–3 ngày, và một cặp nhung tươi nặng 800 g chỉ còn khoảng 250 g khi khô.

Người xưa phân loại nhung rất kỹ:

  • Huyết nhung: loại quý nhất. Nhung còn ngắn, mềm, mọng máu, chưa phân nhánh.
  • Nhung yên ngựa: nhung đã bắt đầu phân nhánh nhưng vẫn còn non, cũng được đánh giá cao nhưng kém huyết nhung.
  • Nếu để nhung quá lâu, nó hoá sừng và mất dần giá trị.
Rất nhiều lát nhung hươu khô thái mỏng màu đỏ nâu với kết cấu xốp ở giữa
Nhung hươu khô thái lát. Phần lõi xốp màu đỏ là mạng lưới mạch máu và mô đang phát triển của nhung.Ảnh: Fumikas Sagisavas / Wikimedia Commons, CC0

Ngày nay, những trang trại hươu có trách nhiệm đều chú trọng gây tê cho hươu khi cắt nhung, giữ vệ sinh và chăm sóc vết cắt. Đó không chỉ là chuyện đạo đức, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ đàn hươu và chất lượng nhung.

Lộc giác và cao ban long

Khi nhung đã hoá xương cứng, ta có lộc giác (gạc hươu nai). Theo GS. Đỗ Tất Lợi, gạc lấy từ con hươu còn sống được đánh giá tốt hơn gạc nhặt trong rừng, và gạc tự rụng là loại kém nhất. Gạc hươu thường có 3–4 nhánh, màu nâu đỏ, các u nổi rõ; gạc nai to và dài hơn, có 3–6 nhánh.

Gạc hươu nai được dùng để nấu cao ban long (lộc giác giao), một vị thuốc bổ quen thuộc trong dân gian. Phần bã còn lại sau khi nấu cao được phơi khô, tán bột, gọi là lộc giác sương. Không có gì bị bỏ phí.

Nhung hươu trong Đông y

Theo Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS. Đỗ Tất Lợi:

  • Tính vị: vị ngọt, tính ôn (ấm).
  • Quy kinh: thận, can, tâm và tâm bào.
  • Công dụng: sinh tinh, bổ tuỷ, ích huyết. Dùng cho người suy nhược; nam giới suy yếu; nữ giới băng lậu, đới hạ.
  • Liều dùng: bột nhung 0,3–1 g mỗi lần.
  • Kiêng kỵ: người âm hư, hoả vượng không nên dùng. Chế phẩm pantocrin không dùng cho người cao huyết áp, tiêu chảy, máu quá đặc hoặc viêm thận nặng.

Các tài liệu y học cổ truyền khác cũng mô tả nhung hươu có tác dụng bổ thận dương, ích tinh huyết, mạnh gân cốt. Nhung thường được nhắc chung với nhân sâm trong cụm từ "sâm nhung": nhân sâm đại bổ nguyên khí, còn nhung hươu bổ thận dương và tinh huyết (đọc thêm bài Nhân Sâm: Huyền Thoại Của Rễ Cây Hình Người).

Đông y cũng nhấn mạnh: nhung hươu là vị thuốc tính ấm, không hợp với người có biểu hiện nhiệt như nóng trong, sốt về chiều, khô họng, ra mồ hôi trộm, táo bón.

Khoa học hiện đại nói gì?

Nhung hươu chứa canxi phosphat, canxi carbonat, nhiều protein, collagen và các chất keo, cùng nhiều yếu tố tăng trưởng của một mô đang phát triển. Có rất nhiều lời quảng cáo về công dụng của nhung, nhưng số thử nghiệm lâm sàng chất lượng cao trên người còn hạn chế.

Chuyện IGF-1 là một ví dụ đáng chú ý. Nhung hươu được quảng cáo là chứa yếu tố tăng trưởng IGF-1, chất bị Cơ quan Phòng chống Doping Thế giới (WADA) cấm, nên từng gây xôn xao trong giới thể thao. Tuy nhiên:

  • Một nghiên cứu năm 2013 phân tích các sản phẩm "nhung hươu" bán trên thị trường và phát hiện IGF-1 trong đó có cấu trúc của IGF-1 người hoặc bò, không phải của hươu. Nói cách khác, sản phẩm có thể đã bị pha thêm chất không rõ nguồn gốc. Một chế phẩm nhung hươu theo kiểu Đông y truyền thống được kiểm tra trong cùng nghiên cứu lại không phát hiện IGF-1.
  • IGF-1 là một protein, nên khi uống vào nhiều khả năng sẽ bị hệ tiêu hoá phân huỷ. Một thử nghiệm nhỏ trên 28 người không thấy nồng độ IGF-1 trong máu thay đổi so với giả dược.

Vì vậy, những nghiên cứu về tế bào gốc nhung hươu trong y học tái tạo, dù rất thú vị, không có nghĩa là ăn hay uống nhung sẽ giúp cơ thể tái tạo. Đó là hai chuyện khác nhau.

Dùng nhung hươu cho đúng

  • Chọn nguồn gốc rõ ràng. Ưu tiên nhung có chỉ dẫn địa lý, ghi rõ cơ sở nuôi, ngày cắt; nhung khô cần được chế biến và bảo quản đúng cách.
  • Không mua nhung, gạc từ hươu nai hoang dã. Hươu sao Việt Nam đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên, nai cũng bị suy giảm; săn bắt, buôn bán động vật hoang dã là vi phạm pháp luật.
  • Cẩn thận với thực phẩm chức năng "nhung hươu" quảng cáo tăng cơ, tăng chiều cao hay chứa IGF-1: như nghiên cứu ở trên cho thấy, thành phần thật có thể khác xa nhãn mác.
  • Nhung hươu ngâm mật ong là cách dùng phổ biến trong dân gian. Mật ong vừa giúp bảo quản, vừa dễ uống (xem bài Mật Ong!). Nếu dùng nhung tươi, cần đảm bảo nhung được cắt và sơ chế sạch sẽ, bảo quản lạnh và dùng trong thời gian ngắn.
  • Rượu nhung nên dùng điều độ; người có bệnh gan, huyết áp cao, phụ nữ có thai và trẻ em không nên dùng.
  • Hỏi ý kiến thầy thuốc hoặc bác sĩ trước khi dùng nhung hươu như một vị thuốc, đặc biệt nếu bạn có bệnh huyết áp, bệnh thận, đang có biểu hiện nhiệt, hoặc đang mang thai.

Lời kết

Chiếc sừng non mọc lên mỗi mùa xuân trên đầu chú hươu là một kỳ quan sinh học, và cũng là một báu vật mà con người đã trân quý suốt hai nghìn năm. Từ những cuộn thư thời Hán, những chuồng hươu maral trên thảo nguyên Altai, đến những làng nuôi hươu dưới chân Trường Sơn, nhung hươu đã gắn bó với khát vọng sống khoẻ, sống lâu của con người.

Nhưng câu chuyện của hươu sao Việt Nam cũng nhắc chúng ta rằng: những báu vật của thiên nhiên chỉ còn khi con người biết gìn giữ. Một chút nhung hươu có trách nhiệm, đến từ những trang trại tử tế, là cách để vừa giữ được vị thuốc quý, vừa giữ được loài hươu cho mai sau.


Bài viết mang tính chất tổng hợp thông tin, không thay thế lời khuyên của bác sĩ hoặc thầy thuốc.

Tài liệu tham khảo