Gác Kèo Ong: Nghề Ăn Ong Ở Rừng Tràm U Minh
Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, muốn có mật thì người ta nuôi ong: đặt thùng, chia đàn, quay mật. Nhưng ở rừng tràm U Minh, nơi tận cùng phía nam của Tổ quốc, có một nghề lấy mật không giống ai. Người thợ không nuôi con ong nào cả. Họ chỉ gác những cây kèo trong rừng, rồi chờ đàn ong rừng tự tìm đến làm tổ. Người miệt rừng gọi việc đi lấy mật ấy bằng một cái tên mộc mạc: ăn ong.
Nghề gác kèo ong đã được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Bài viết này kể về loài ong đặc biệt của rừng tràm, về kỹ thuật gác kèo được cha truyền con nối qua nhiều thế hệ, và về hũ mật ong U Minh mà nhiều người tìm mua.
Con ong khoái: loài ong không chịu ở thùng
Ong ở rừng U Minh chủ yếu là ong khoái, tên khoa học Apis dorsata, còn gọi là ong khổng lồ châu Á. Đây là loài ong mật lớn nhất trong họ hàng ong mật, khác hẳn con ong nội (Apis cerana) hay ong ngoại (Apis mellifera) mà người ta nuôi trong thùng gỗ.
Ong khoái có hai đặc điểm khiến người ta không thể nuôi chúng trong thùng:
- Chúng làm tổ lộ thiên. Mỗi tổ chỉ có một tầng sáp duy nhất, treo dưới cành cây, vách đá hay mái nhà, chứ không xây nhiều cầu sáp trong hốc kín như ong nội.
- Chúng hay di cư. Đàn ong khoái di chuyển theo mùa hoa. Các nhà khoa học ghi nhận ong khoái ở cực Nam nước ta di chuyển qua lại giữa rừng ngập mặn ven biển và rừng tràm sâu trong đất liền, theo nhịp nở hoa của từng vùng.
Tổ ong khoái có thể rất lớn. Một nghiên cứu khảo sát 158 tổ ong trong rừng tràm cho thấy tổ rộng từ 43 đến 162 cm, cao từ 23 đến 90 cm. Chỉ khoảng 3 đến 4 tuần sau khi làm tổ, một đàn đã có thể tích được trung bình khoảng 4 kg mật.
Vì không thể nhốt con ong vào thùng, người U Minh đã nghĩ ra một cách khác: xây sẵn "nhà" cho ong, đúng kiểu nhà mà loài ong này ưa thích, rồi để ong tự dọn đến ở.
Từ "lội ong" đến "gác kèo"
Không ai biết chính xác nghề gác kèo ong bắt đầu từ năm nào, do gia đình nào nghĩ ra. Các tài liệu địa phương cho rằng nghề hình thành cùng với quá trình khai hoang vùng đất U Minh, đặc biệt từ nửa sau thế kỷ XIX. Có tài liệu còn đẩy mốc này về xa hơn, tới thời Mạc Cửu khai mở đất Hà Tiên. Báo chí thường nói gọn rằng nghề đã có hơn 200 năm.
Những người đi rừng đầu tiên lấy mật theo lối săn: lần theo đường bay của ong để tìm tổ tự nhiên. Ở vùng phía bắc sông Cái Lớn lên tới Hà Tiên, người ta gọi lối này là "lội ong". Dần dần, họ để ý thấy ong rừng U Minh rất thích làm tổ dưới những thân cây nằm nghiêng, kiểu như cây kèo đỡ mái nhà. Từ quan sát đó, họ bắt đầu chặt cây, gác nghiêng sẵn ở những chỗ ong hay qua lại để "mời" ong về. Cái tên gác kèo ong ra đời từ đó, và lối lấy mật này gọi là "ăn ong", phổ biến từ nam sông Cái Lớn xuống tới Cà Mau.
Thời trước, những người ăn ong còn tổ chức thành từng nhóm, mà người địa phương nhắc lại với cái tên "tập đoàn phong ngạn". Mỗi nhóm nhận một khu rừng riêng, chia thành nhiều lô, và giữ lệ không ai lấn sang phần rừng của nhóm khác. Đó là một dạng luật rừng bất thành văn, giúp nghề sống được qua nhiều thế hệ.
Cây kèo: nghệ thuật làm nhà cho ong
Nhìn qua thì cây kèo rất đơn giản: một khúc cây gác nghiêng trên hai cọc. Nhưng để ong chịu về ở là cả một nghề. Người ta nói phải mất cả chục năm theo cha theo anh vào rừng mới thành một thợ ăn ong thực thụ.
Chọn cây
Kèo thường làm từ chính cây tràm, loại cây nhỏ cỡ bắp đùi người lớn, dài chừng ba thước. Thân cây được bổ đôi hoặc khoét lòng như cái máng. Theo các nhà nghiên cứu, kèo thường dài khoảng 2 m, đường kính khoảng 15 cm.
Chọn chỗ
Đây là phần khó nhất, và cũng là "bí quyết gia truyền" của mỗi nhà. Những kinh nghiệm được chia sẻ nhiều nhất là:
- Phải có nắng. Ong không thích chỗ rợp bóng. Kèo phải đón được cả nắng sáng lẫn nắng chiều để luôn khô ráo. Người thợ già nói rằng ở chỗ ẩm thấp, mật bao giờ cũng có vị chua.
- Phải gần nguồn hoa. Chỗ gác kèo phải có nhiều bông tràm, có lau sậy và có nước.
- Phải có khoảng trống phía trước. Kinh nghiệm này đã được khoa học kiểm chứng. Một nghiên cứu trên 507 cây kèo ở rừng U Minh cho thấy: khi khoảng trống phía trước kèo rộng trên 25 m, có tới 85% số kèo có ong về trong mùa khô và 92% trong mùa mưa. Còn khi khoảng trống chỉ rộng từ 3 đến 25 m, tỷ lệ này chỉ còn 33–51%.
- Phải đúng độ nghiêng. Kèo được gác nghiêng khoảng 15 đến 35 độ so với mặt đất, giống độ dốc của một mái nhà.
Nếu kèo gác xong mà ong không về, người thợ gọi là "kèo chưa êm" và phải dời đi chỗ khác. Một thợ giỏi có thể gác mười cây kèo thì chín cây có ong; người mới vào nghề thì có khi chờ cả mùa mà về tay không.
Chọn thời điểm
Kèo thường được gác vào khoảng tháng 10, 11 âm lịch, tức là cuối mùa mưa, trước khi rừng tràm vào mùa trổ bông. Gác sớm như vậy để những trận mưa cuối mùa kịp xoá hết hơi người trên cây kèo, và để cây kịp khô trước khi đàn ong đầu tiên kéo về.
Mùa tràm trổ bông, mùa ăn ong
Mùa ăn ong gắn liền với mùa hoa tràm, rơi vào mùa khô, từ khoảng cuối năm đến tháng 3, tháng 4 năm sau, khi rừng tràm nở rộ nhất. Khi hoa tràm nở, hàng nghìn đàn ong khoái đổ về rừng, tìm những cây kèo vừa ý để làm tổ.
Lấy mật mà không giết ong
Điểm làm nên giá trị của nghề gác kèo là lấy mật mà vẫn giữ được đàn ong. Khác với lối săn tổ ong rừng phá cả tổ, người ăn ong chỉ cắt phần tổ chứa mật:
- Hun khói cho ong dạt ra. Người thợ dùng con cúi bện bằng xơ dừa, lá dừa khô, thấm hơi ẩm để đốt cho nhiều khói. Nay nhiều nơi đã dùng bình phun khói. Người thợ đứng đầu gió, áo dài tay, mang lưới che mặt.
- Cắt phần "đầu mật". Phần mật thường nằm ở phía trên của tàng ong, gần cây kèo. Người thợ chỉ cắt phần này và chừa lại khoảng một phần ba tàng, gồm phần ong non, để đàn ong tiếp tục làm tổ.
- Hẹn ngày quay lại. Theo các nhà nghiên cứu, lần lấy mật đầu tiên có thể làm sau khi ong về kèo khoảng 20 đến 30 ngày, lần thứ hai khoảng 30 ngày sau đó. Một tổ được chăm đúng cách có thể cho mật ba, bốn lần trong mùa, có tổ tốt cho tới cả chục lần, mỗi lần vài lít.
Có một chi tiết đáng chú ý: ngày trước, người ta đốt đuốc lá khô để hun ong, và chính những bó đuốc này từng là nguyên nhân chính gây cháy rừng tràm. Từ năm 1993, nhiều người đã chuyển sang dùng bình phun khói. Nghề ăn ong vì vậy gắn chặt với chuyện giữ rừng: rừng còn thì ong còn, ong còn thì người còn sống được với nghề.
Những người giữ nghề
Nghề ăn ong được truyền miệng và truyền tay, từ cha sang con. Báo chí từng kể về ông Trần Văn Nhì, thường gọi là Út Nhì, ở xã Nguyễn Phích, huyện U Minh (cũ). Ông theo cha học nghề từ năm mười mấy tuổi, có hơn bốn mươi năm gác kèo, và là đời thứ tư trong một gia đình năm đời theo nghề ở rừng U Minh Hạ. Con trai ông cũng đã gắn bó với nghề hàng chục năm.
Ngày nay, nhiều người ăn ong vào hợp tác xã nhận khoán giữ rừng. Chẳng hạn, Hợp tác xã 19/5 ở xã Nguyễn Phích quản lý khoảng 500 ha rừng tràm. Theo Báo Văn hoá năm 2023, mỗi năm hợp tác xã thu khoảng 6.200 lít mật; một hộ thành viên trung bình thu 200 đến 250 lít, giá bán khoảng 350.000 đến 500.000 đồng mỗi lít. Người giữ rừng sống được nhờ con ong, nên con ong cũng trở thành lý do để giữ rừng.
Theo Báo Nhân Dân năm 2024, rừng U Minh Hạ có thể cho khoảng 1.000 tấn mật mỗi năm, trong đó khoảng 800 tấn là do người dân gác kèo khai thác.
Gác kèo ong trong văn chương và di sản
Nhiều thế hệ học trò Việt Nam đã biết tới nghề ăn ong qua trang văn của nhà văn Đoàn Giỏi. Trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam (1957), chương kể chuyện An theo tía nuôi và Cò vào rừng U Minh đi lấy mật đã được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn. Qua những gì má nuôi kể và những gì tận mắt thấy, cậu bé An hiểu ra rằng người U Minh có cách "thuần hoá" ong rừng riêng của mình: không nhốt ong vào thùng, mà gác kèo để ong tự tìm đến. Trang văn ấy cũng cho thấy chọn được chỗ gác kèo khó đến nhường nào, khi có người làm nghề lâu năm mà vẫn về tay không.
Ngày 20/12/2019, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 4613/QĐ-BVHTTDL, đưa nghề gác kèo ong ở huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia. Đây là sự ghi nhận cho một tri thức dân gian độc đáo: hiểu con ong, hiểu rừng, và biết khai thác mà không tận diệt.
Ngày nay, du khách đến các điểm du lịch sinh thái trong rừng tràm U Minh Hạ có thể theo thợ đi xem gác kèo, xem ăn ong và nếm mật ngay giữa rừng.
Mật ong U Minh có gì đặc biệt?
Mật ong rừng tràm U Minh được mô tả có màu vàng trong, thoảng mùi hoa tràm dịu nhẹ và vị ngọt thanh. Ở đây, người ta truyền tai nhau rằng mật đặc tới mức rót vào chai mà không cần phễu. Đó là cách nói ví von của dân gian, nhưng cũng phản ánh một điều có thật: mật lấy vào giữa mùa khô thường đặc và thơm hơn.
Mùa vụ ảnh hưởng nhiều tới chất lượng mật:
- Mật mùa khô, khi tràm nở rộ, được xem là ngon nhất: màu vàng đẹp, đặc, thơm.
- Mật mùa mưa thường loãng hơn, kém vàng hơn và có thể hơi chua. Lý do là mật chứa nhiều nước hơn, dễ lên men. Đây cũng là lý do người thợ tránh gác kèo ở chỗ râm ẩm.
Mật ong U Minh Hạ cũng đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp nhãn hiệu tập thể từ năm 2011, giúp người mua phân biệt mật của các hợp tác xã địa phương với hàng trôi nổi.
Mua mật ong U Minh thế nào cho đúng?
Mật rừng U Minh có tiếng nên cũng dễ bị làm giả, pha trộn. Vài kinh nghiệm khi mua:
- Ưu tiên mật có nguồn gốc rõ ràng: của hợp tác xã, cơ sở có tên, địa chỉ ở vùng U Minh, có nhãn hiệu tập thể hoặc chứng nhận OCOP.
- Hỏi rõ mùa vụ. Mật mùa khô và mật mùa mưa khác nhau về độ đặc và giá.
- Đừng tin các mẹo thử mật "thần thánh". Thả mật vào nước, đốt giấy hay xem kiến có bu không đều không phân biệt được mật thật giả. Mật ong thật cũng có thể kết tinh. Xem thêm bài Mật ong kết tinh có phải mật giả?.
- Giá quá rẻ là dấu hiệu đáng ngờ. Một lít mật rừng thật đòi hỏi công sức của cả một mùa ăn ong.
Dùng mật ong U Minh
Mật ong rừng tràm dùng như các loại mật ong khác: pha nước ấm, pha chanh, gừng, ăn kèm bánh, chấm trái cây. Ở miền Tây, có những đứa trẻ lớn lên với món "cơm nguội chan mật ong" mà mẹ dành cho, và có những hũ mật được người lớn cất kỹ "để dành làm thuốc".
Những lưu ý chung khi dùng mật ong:
- Không cho trẻ dưới 1 tuổi dùng mật ong, vì nguy cơ ngộ độc botulinum.
- Người tiểu đường nên dùng có chừng mực và hỏi ý kiến bác sĩ.
- Không đun sôi mật. Muốn pha thì dùng nước ấm.
Để hiểu thêm về mật ong nói chung, từ lịch sử tới Đông y và khoa học, bạn có thể đọc bài Mật Ong!. Nếu thích những loại mật mang dấu ấn vùng miền, hãy đọc tiếp về mật ong bạc hà Hà Giang và mật ong hoa vải Lục Ngạn.
Lời kết
Gác kèo ong là một cách sống chung với rừng. Người U Minh không bắt con ong phải theo ý mình. Họ học cách nghĩ như con ong: ong thích nắng, thích khoảng trống, thích thân cây nghiêng như mái nhà, rồi dựng sẵn những mái nhà ấy giữa rừng tràm. Đổi lại, con ong để lại cho họ những mẻ mật vàng trong của mùa tràm trổ bông.
Mỗi giọt mật ong U Minh vì thế không chỉ là sản vật của rừng, mà còn là kết tinh của hơn hai trăm năm hiểu rừng, giữ rừng của những người thợ ăn ong miền cực Nam.
Bài viết mang tính chất tổng hợp thông tin, không thay thế lời khuyên của bác sĩ hoặc thầy thuốc. Từ năm 2025, các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang có thay đổi địa giới hành chính; tên huyện, tỉnh trong bài được ghi theo cách gọi trong các tài liệu gốc.
Tài liệu tham khảo
- Quyết định 4613/QĐ-BVHTTDL công nhận nghề gác kèo ong là di sản văn hoá phi vật thể quốc gia: Báo Pháp luật Việt Nam
- Gác kèo ong ở xứ rừng U Minh Hạ (lịch sử, "lội ong" và "ăn ong", Hợp tác xã 19/5, ông Út Nhì): Báo Văn hoá
- Nghề "ăn ong" miệt rừng U Minh Hạ (cách lấy mật, sản lượng, tập đoàn phong ngạn): Báo Nhân Dân
- Săn mật ong rừng U Minh (vật liệu kèo, thời điểm gác kèo, "kèo chưa êm"): VnExpress
- Đổi đời nhờ "gác kèo ong" ở đất rừng U Minh Hạ: VOV
- Mật ong chan cơm nguội: Báo Sài Gòn Giải Phóng
- Nhãn hiệu tập thể "Mật ong U Minh Hạ": Báo Nhân Dân
- Tan N.Q., Chinh P.H., Thai P.H., Mulder V. (1997). Rafter beekeeping with Apis dorsata: some factors affecting the occupation of rafters by bees. Journal of Apicultural Research 36: 49–54. Tóm tắt: Conservation Evidence
- Tan N.Q. (2007). Biology of Apis dorsata in the submerged Melaleuca forest of Vietnam. Apidologie: apidologie.org
- Tan N.Q. (2004). Studies of the Asian giant honey bee, Apis dorsata, in the submerged Melaleuca forest of Vietnam. Luận án tiến sĩ, Đại học Oxford: ORA Oxford
- Crane E., Vu Van Luyen, Mulder V., Tran Cong Ta (1993). Traditional management system for Apis dorsata in submerged forests in southern Vietnam and central Kalimantan. Bee World: Eva Crane Trust
- Kỹ thuật gác kèo và chuyển từ đuốc sang bình phun khói: Bees for Development Journal số 36 (1995): Bees for Development
- Đoạn trích "Đi lấy mật" (Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam), Ngữ văn 7: Lời giải hay


